Thứ Năm, ngày 21 tháng 8 năm 2014

8 câu hỏi nhà lãnh đạo nên tự vấn mỗi ngày


8 câu hỏi nhà lãnh đạo nên tự vấn mỗi ngày

Cho dù bạn là trưởng một nhóm, một quản lý nhà hàng hay một người đứng đầu công ty thì khả năng phân tích và phê bình đều vô cùng cần thiết để làm nên thành công.


Những người thành công thường không bao giờ chấp nhận cuộc sống với nhịp điệu lặp lại, điều họ làm là chấp nhận rủi ro, thử thách mới và đặt ra những mục tiêu lớn theo đuổi.

Vậy làm sao để người thành công bỏ qua những vấn đề gây nhiễu hàng ngày để làm việc tập trung và hiệu quả? Sau đây là 8 câu hỏi mà tờ Businessinsider đề xuất bạn nên tự vấn bản thân mỗi ngày để lấy lại sự tập trung và động lực theo đuổi mục tiêu.

1. Tôi đã đạt được điều gì?


Sau mỗi ngày làm việc hãy dành chút thời gian để đánh giá hiệu suất công việc của bạn một cách khách quan. Hãy nhìn nhận những gì bạn đạt được và cả những gì bạn chưa đạt được trong kế hoạch một ngày làm việc một cách chân thực và cụ thể để từ đó có những kế hoạch rõ ràng về những gì cần làm cho ngày mai.

Trong những ngày thời gian trở nên ngắn ngủi, những người thành công xem xét lại và cố gắng tìm ra những con đường ngắn và hiệu quả hơn để hoàn thành danh sách công việc của mình.

2. Tôi đã làm sai điều gì và đâu là bài học rút ra từ sai lầm đó?

Đừng phủ nhận sai lầm của bản thân. Không ai là không mắc sai lầm. Điều quan trọng là bạn nhìn nhận ra nó và làm thế nào để không phạm vào nó lần thứ hai.

3. Có phải tôi nên giúp người khác cùng thành công?


Một nhà lãnh đạo thông minh không chỉ tập trung vào thành tích của cá nhân mà cần phải quan tâm, giúp đỡ những nhân viên của họ cùng đạt hiệu quả công việc cao nhất. Đó là cách bạn tạo cho họ cơ hội hoàn thiện dần mỗi ngày. Nó không hẳn là điều gì quá lớn lao. Đơn giản chỉ là dành 20 phút mỗi ngày thảo luận với một nhân viên nào đó về hiệu quả công việc và sự tiến bộ của anh ấy /cô ấy. Một chuỗi nhân viên làm việc hiệu quả là cách đáng tin cậy nhất để giúp công ty bạn phát triển vũng mạnh.


4. Điều gì thúc đẩy tôi?

Thật không dễ dàng để dẫn dắt một doanh nghiệp trong thời buổi kinh tế khó khăn. Đâu là động lực của bạn, hãy cố gắng để cải thiện nó. Ghi lại những điều truyền cảm hứng cho bạn và tô đậm, gạch chân nó mỗi khi bạn cần đến sự nhiệt tình mới. Nhà lãnh đạo tài ba thường hiểu sâu sắc động lực, động cơ làm việc của bản thân và tận dụng những hiểu biết của họ để tạo ra những lợi ích.

Việc tự nhắc nhở bản thân tại sao bạn cảm thấy hứng thú khi làm những công việc này có ý nghĩa lớn trong việc duy trì động lực làm việc của bạn. Có nhiều nhân tố thúc đẩy công việc bạn như tiền bạc, con người, thành tựu đạt được,…và tất cả những điều thú vị thúc đẩy bạn làm việc chăm chỉ và hứng khởi. Giữ những động lực này trong đầu khiến bạn có thể mỉm cười và mang đến sự hài lòng với mỗi nhiệm vụ hoàn thành. Việc hiểu rõ ràng về lựa chọn của mình ra sao khiến bạn dễ dàng vượt qua cảm giác nóng giận cũng như những thách thức sẽ xuất hiện trong quá trình làm việc.

5. Tôi vừa làm việc vừa hướng đến mục tiêu?


Thuyền trưởng một con tàu luôn cần giữ đích đến trong tâm trí. Tương tự như vậy, khi lãnh đạo một doanh nghiệp hay dẫn dắt một nhóm bạn cần đề ra mục tiêu rõ ràng để giữ cho tất cả mọi người tập trung và di chuyển theo cùng một hướng. Vạch rõ từng mục tiêu kinh doanh của bạn và tự hỏi rằng mỗi ngày bạn phải làm gì để thực hiện được chúng. Nếu không đạt được mục tiêu đề ra hãy tìm hiểu xem đâu là lý do và thay đổi chiến thuật để đưa mọi thứ về đúng quỹ đạo. Không bao giờ đánh mất mục tiêu của bản thân.

6. Tôi đã gặp phải trở ngại gì?

Câu hỏi này sẽ giúp bạn xác định ra điều gì có thể bị bỏ lỡ trong kế hoạch hiện tại. Đó có thể là những công việc bổ sung thêm khiến các kỹ năng và khả năng của bạn sẽ tạo điểm khác biệt nhất trong sự thành công của một dự án.

Bên cạnh đó có những công việc bạn cần bỏ qua để nâng cao sự tập trung và tạo ra được tác động tích cực. Một điểm quan trọng khác của câu hỏi này là khi bạn cảm thấy quá tải, nó sẽ giúp bạn phân tích đâu là điểm bạn có thể thay đổi để dồn lực vào những cố gắng của mình.

Một khi hiểu được đâu là khó khăn mà bản thân đã mắc kẹt, bạn sẽ biết cách để gỡ bỏ nó một cách nhanh nhất có thể.

7. Tôi có thể để điều gì ra đi?

Khi mọi thứ xung quanh bạn đang chuyển động nhanh, những thứ ưu tiên có thể thay nhanh chóng trong một ngày hay thậm chí là ngay lập tức. Việc quan trọng cần làm là đánh giá lại và đảm bảo những công việc trước mắt là phù hợp với bạn. Một số nhiệm vụ từng có thứ tự ưu tiên cao có thể trở nên ít quan trọng ở hiện tại sau khi có thêm dữ liệu mới. Hoặc những người khác trong nhóm của bạn có thể thực hiện chúng hiệu quả hơn.

Bất kỳ thời điểm nào bạn có thể loại bỏ những nhiệm vụ trong danh sách công việc, bạn sẽ có nhiều thời gian và năng lượng để sử dụng hiệu quả hơn. Đây cũng là một câu hỏi tốt cho việc dọn dẹp đầu óc bạn khỏi mớ cảm xúc bừa bộn. Bạn nên sử dụng câu hỏi này mỗi khi rơi vào tình trạng căng thẳng hay thất vọng trong ngày. Để những suy nghĩ và cảm xúc không hiệu quả ra đi sẽ khơi nguồn cho dòng năng lượng tinh thần tốt hơn xuất hiện.

8. Tôi muốn để lại điều gì?
 
Bạn muốn được người khác nhớ đến như thế nào? Ghi nhớ điều này mỗi ngày và luôn nỗ lực vì mục tiêu cuối cùng. Bạn có hài lòng với cách bạn thực hiện mọi việc ngày hôm nay? Không ai sinh ra là đã thành công. May mắn chỉ là một yếu tố nhất định. Chỉ có thể bằng những trải nghiệm, bằng cách vượt lên những thất bại bạn mới có thể sở hữu “thành công” một cách trọn vẹn và an toàn. Hãy tự mình vẽ lên bức

Thứ Tư, ngày 20 tháng 8 năm 2014

8 nguyên tắc xây dựng ê-kíp đổi mới của CEO

8 nguyên tắc xây dựng ê-kíp đổi mới của CEO

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, đổi mới và liên tục đổi mới là yêu cầu cấp thiết đối với sự tồn tại của doanh nghiệp (DN), mà giám đốc điều hành (CEO) phải là người khởi xướng.

Công cuộc đổi mới luôn gặp nhiều khó khăn vì chúng thường xâm hại đến các “nhóm lợi ích” cố hữu của DN, đòi hỏi CEO phải tạo lập được ê-kíp hiệu quả trong quá trình thực hiện đổi mới.


Khi nào doanh nghiệp cần đổi mới?


Đổi mới là yều cầu đặt ra đối với nhiều DN khi cấu trúc của DN lạc hậu, thiếu tương thích để tận dụng cơ hội và/hoặc bị đe dọa bởi các thách thức từ môi trường kinh doanh.


Môi trường kinh doanh đặt ra yêu cầu phải thay đổi sản phẩm, công nghệ, mô hình kinh doanh, hệ thống quản lý và kỹ năng làm việc… để tránh bị lạc hậu so với đối thủ cạnh tranh, đảm bảo duy trì hoặc cải thiện năng lực cạnh tranh kém.


Yêu cầu đổi mới cần được nhận thức trước tiên bởi người đứng đầu DN. CEO có thể nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới từ những dự báo về môi trường kinh doanh và/hoặc quan sát cấu trúc hiện hữu (sản phẩm, công nghệ, hệ thống quản lý, phương thức kinh doanh…) từ các doanh nghiệp tương tự.


Sau khi nhận thức được yêu cầu cần thiết phải đổi mới, CEO chuyển hoá nhận thức đó thành những hoạt động đổi mới cho DN nghiệp mình thông qua chiến lược, kế hoạch và định hướng hành động cho từng bộ phận trong DN.


Những khó khăn khi thực hiện đổi mới



Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, CEO có thể gặp những trở ngại từ các nhóm lợi ích cố hữu của DN và các lực lượng bảo thủ. Lực lượng gây cản trở thường có những biểu hiện:


- Cố tình tạo ra xung đột: các ý tưởng đổi mới thường dễ bị “tổn thương”, dễ tạo ra sự xung đột hệ thống bởi chúng xâm hại đến các nhóm lợi ích đã tồn tại trong DN từ trước.


- Cố chứng minh những ý tưởng đổi mới là không phù hợp: ý tưởng đổi mới chưa được kiểm chứng tính hiệu quả qua thực tiễn tại DN có thể là cái “cớ” để lực lượng bảo thủ thực hiện các hành vi phá hoại, chống đối nhằm “giữ nguyên hiện trạng”.


- Liên kết tiêu cực để không thực hiện đổi mới: các nhóm lợi ích có thể liên kết với nhau tìm ra các lý lẽ chứng minh các ý tưởng của CEO là thiếu khả thi, nhằm vô hiệu hoá các chính sách đổi mới do CEO đề xướng, làm nản chí CEO.


- Châm chích những sáng kiến đổi mới: quá trình đổi mới có thể gặp biến cố bất lợi, sai lầm trong bước đầu triển khai - sẽ là cái “cớ” để lực lượng chống đối châm chích, chuyện nhỏ xé ra to nhằm đánh bại ý chí của người khởi xướng.


Các nguyên tắc xây dựng ê-kíp đổi mới


Để vượt qua các cản trở trên, CEO phải có chiến lược thực hiện đổi mới hợp lý, theo trình tự ưu tiên các vấn đề cần đổi mới. Quan trọng hơn hết, CEO phải xây dựng được ê-kíp theo hướng “biến địch thành bạn” để vượt qua các rào cản.


Sau đây là các nguyên tắc để xây dựng ê-kíp đổi mới theo hướng đó:


- Thứ nhất, nhận diện vấn đề cần đổi mới: Vấn đề cần đổi mới xuất phát từ phân tích sự tương thích giữa cấu trúc hiện tại của DN với xu hướng thay đổi môi trường kinh doanh. Cần quan sát các doanh nghiệp có hệ thống quản trị tiến bộ để học hỏi kinh nghiệm, từ đó xác định các nội dung cần đổi mới và sắp xếp chúng theo thứ tự ưu tiên thực hiện.


- Thứ hai, nhận diện các khó khăn khi thực hiện đổi mới: Quan sát để nhận diện các nhóm lợi ích bị xâm hại khi thực hiện đổi mới, tiên liệu trước các hành động cản trở đổi mới từ các nhóm lợi ích để không bị thụ động.


- Thứ ba, tạo lập nhóm hạt nhân đổi mới: Trong bất kỳ tổ chức nào thường không thiếu những người có tư tưởng tiến bộ, CEO cần nhận diện ra họ và “truyền lửa” cho họ về những tư tưởng đổi mới, tập hợp họ thành hạt nhân và từng bước bố trí vào các vị trí quan trọng nhằm phục vụ cho công cuộc đổi mới.


- Thứ tư, tuyên truyền tư duy đổi mới trên diện rộng: Dùng lực lượng hạt nhân để tuyên truyền tư tưởng đổi mới thông qua các hoạt động cải tiến nhỏ, dần dần mở rộng thêm ê-kíp đổi mới.


- Thứ năm, minh chứng thành công từ thực tiễn: CEO nên tập hợp lực lượng gây cản trở cho đi tham quan về cách làm mới từ các DN có hệ thống quản lý tiên tiến và hiệu quả hơn, giúp họ nhận thức đầy đủ về cách làm mới. Bằng cách này có thể phát triển thêm ê-kíp đổi mới từ những người gây cản trở trước đây.


- Thứ sáu, thể chế hoá hành động đổi mới: Khi đã tạo lập được ê-kíp đồng thuận chủ trương đổi mới ở mức độ tương đối (không nhất thiết là 100% đồng thuận), CEO cần chỉ đạo cho trưởng các bộ phận xây dựng kế hoạch thực hiện đổi mới và trao đổi thống nhất tập thể trước khi phê duyệt để thực hiện. Bên cạnh đó cũng ban hành các quy định có tính pháp lý kèm theo có chế tài cụ thể đối với các hành vi liên quan đến quá trình đổi mới.


- Thứ bảy, nêu gương - nhân rộng: Các sáng kiến, hoặc kết quả thành công mang lại từ sự đổi mới cần được nêu gương, khen thưởng và phổ biến rộng rãi cho toàn thể người lao động trong DN. Đồng thời kết quả đổi mới nên nhân rộng áp dụng cho các đơn vị có các hoạt động tương tự.


- Thứ tám, củng cố quy trình: Các quy trình đổi mới đã mang lại kết quả thành công cần được cập nhật nhanh chóng vào hệ thống quản trị nội bộ và cần thực hiện kiểm soát thường xuyên để hoàn thiện dần.

Thứ Ba, ngày 19 tháng 8 năm 2014

Tâm trạng 'sớm nắng chiều mưa' của sếp ảnh hưởng tới nhân viên ra sao?


Tâm trạng 'sớm nắng chiều mưa' của sếp ảnh hưởng tới nhân viên ra sao?

 

Khi tạo ra môi trường hàng ngày với những cảm xúc tích cực, các thành viên còn lại cũng sẽ cảm nhận được điều đó và dành tình cảm tương tự cho bạn.




Nội dung nổi bật:

- Bất kể là một nhà quản lý trong những tập đoàn lớn và có danh tiếng hay là CEO của một công ty mới khởi nghiệp, cần phải nhớ rằng bạn chính là người tạo nên giai điệu cảm xúc tình cảm cho toàn bộ nhóm.

- Khi tạo ra cảm xúc tích cực có tính lan truyền, các thành viên trong nhóm hay nhân viên của bạn sẽ muốn gắn bó nhiều hơn với công ty.


Tâm trạng dù tốt hay xấu cũng đều có tính lây lan và truyền nhiễm rất nhanh chóng. Vì thế, đứng ở vị trí là người lãnh đạo, trưởng nhóm, bạn cần phải thận trọng với vấn đề tâm trạng và cảm xúc cá nhân của mình. Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới biểu hiện của toàn bộ nhân viên hoặc những thành viên còn lại trong nhóm.

Dưới đây là chia sẻ của Chris Heivly, Tổng giám đốc quỹ đầu tư The Starup Factory về vấn đề kể trên.


Là lãnh đạo, hàng ngày bạn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề cần giải quyết và đưa ra quyết định. Ngay sáng sớm thức dậy bạn đã phải suy nghĩ về cách làm thế nào để chèo lái công ty phát triển nhanh, mạnh tiến về phía trước.

Hay khi uống cà phê tâm trí của bạn cũng bị làm phiền bởi những suy nghĩ về quyết định cho vấn đề sản phẩm đang tồn tại trong những ngày qua gây ảnh hưởng đến năng suất làm việc của toàn đội. Thậm chí, trong bữa ăn trưa, bạn cũng bị cuốn vào suy nghĩ về việc liệu có nên thuê một công ty tiếp thị truyền thông chuyên nghiệp như bạn đã gặp gỡ và trao đổi trong buổi tiệc đêm qua hay không.

Tất cả những hành động kể trên đều liên quan đến những suy nghĩ thận trọng, là yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thành công và tương lai của công ty? Điều này liệu có đúng hay không? Có lẽ không. Nếu đang lãnh đạo công ty hay là trưởng nhóm của một dự án, những suy nghĩ của riêng bạn cùng với các quyết định và hành động tiếp theo sau đó thường tạo ra ảnh hưởng rất hạn chế.

Tôi thừa nhận rằng, truyền cảm hứng cho mỗi thành viên trong đội để hoạt động trong khả năng tốt nhất của họ sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong thành công của bạn sau đó.

Khi 20 tuổi, tôi đã được trải nghiệm cơ hội lần đầu làm lãnh đạo khi phụ trách một nhóm nhân viên vẽ bản đồ chuyên nghiệp tại Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, Washington (Mỹ). Lúc đó, kỹ năng lập các bản đồ kỹ thuật số mới của chúng tôi được lấy cảm hứng từ các lãnh đạo cấp cao để đặt được nhiều bản đồ trong nhiều ấn phẩm nhất có thể so với trước đó.

Kết quả sau đó có rất nhiều người ghé thăm văn phòng của chúng tôi và chủ yếu là các chuyên gia nghiên cứu về các vấn đề quốc tế nóng hổi. Phản ứng của tất cả chúng tôi sau khi họ ra khỏi văn phòng đều cho rằng những yêu cầu của họ thật ngu xuẩn.

Một vài tuần sau đó, như một sự tình cờ tôi nhận ra rằng chúng tôi đang đứng trong ngành công nghiệp dịch vụ được thiết lập nhằm tăng cường khả năng chuyên môn của những chuyên gia đó. Là một tổ chức dịch vụ, công việc của chúng tôi là phải phục vụ nhu cầu của họ.

Vì thế, tôi đã tập trung toàn bộ khả năng vào việc lập ra bản đồ kỹ thuật số cho toàn đội. Nhưng điều đó có vẻ quá muộn bởi tôi đã sai lầm trong việc thiết lập nên cảm xúc, thái độ tình cảm sai cho toàn đội.

Vì thế, bất kể bạn là một nhà quản lý trong những tập đoàn lớn và có danh tiếng hay là CEO của một công ty mới khởi nghiệp, cần phải nhớ rằng bạn chính là người tạo nên giai điệu cảm xúc tình cảm cho toàn bộ nhóm.

Một khi bản thân bạn mang tâm trạng tích cực sẽ khiến các thành viên trong đội lấy đó làm gương và thậm chí coi đó như một phần cảm xúc trong tâm chí của chính họ. Đây gọi là tính cộng hưởng trong y học và là công cụ quản lý hữu hiệu dành cho các nhà lãnh đạo.

Cảm xúc có tính lây lan và truyền nhiễm. Hãy luôn luôn nghĩ làm thế nào để mang lại nhiều niềm vui cho người khác hơn thông qua câu chuyện bạn kể.

Tương tự như vậy trong kinh doanh, khi tạo ra môi trường hàng ngày với những cảm xúc đầy tích cực, các thành viên còn lại cũng sẽ cảm nhận được điều đó và dành tình cảm tương tự với bạn. Ngoài ra, nó còn thúc đẩy các thành viên muốn được gắn bó nhiều hơn nữa với toàn đội.

Thứ Hai, ngày 18 tháng 8 năm 2014

Cụm từ 'Made in Vietnam' đang bị lạm dụng ra sao?

 

Cụm từ 'Made in Vietnam' 

đang bị lạm dụng ra sao?


 


 Cùng với làn sóng "ghét" hàng Trung Quốc là nhà nhà, người người đổ xô dùng hàng “Made in Vietnam” làm cho cụm từ chỉ xuất xứ này trở thành thương hiệu tên tuổi.

Các cửa hàng Made in Vietnam mọc lên như nấm ở Hà Nội, từ các trung tâm mua sắm cho đến ngõ hẻm. Ảnh: Ngọc Lan.


Cuối năm 2012, khi rộ lên thông tin sinh vật lạ làm tổ trong quần áo trẻ em mới mua được cho là có xuất xứ từ Trung Quốc, chị Nguyễn Ngọc Anh (Tam Trinh, Hai Bà Trưng, Hà Nội) cùng các đồng nghiệp trong công ty bảo nhau tẩy chay hàng hóa từ nước này. Chị cho biết: “Mấy năm trước, quần áo Trung Quốc nhan nhản, cửa hàng 'Made in Vietnam' còn khiêm tốn, nên tìm mua sản phẩm xuất xứ Việt khó và đắt”, chị nói. Khi đó, ở công ty chị Ngọc Anh, chiến dịch người Việt dùng hàng Việt lan khắp công ty và được mọi người hưởng ứng nhiệt tình.


Không chỉ các nhân viên công ty chị Ngọc Anh, mà nhiều người tiêu dùng trong nước cũng bắt đầu chuộng mặt hàng có xuất xứ ở Việt Nam. Chỉ sau một thời gian ngắn, những cửa hàng dán nhãn “Việt Nam xuất khẩu” mọc lên nhan nhản. Nhiều cửa hàng cũng bắt đầu thay tên đổi họ thành “Made in Vietnam”. Từ trong các trung tâm mua sắm cho đến những con phố nhỏ, đâu đâu người ta cũng bắt gặp những cửa hàng mang thương hiệu này. Không ai phủ nhận, cụm từ "Made in Vietnam" có sức hút bắt đầu từ đó, và kéo dài đến hiện tại. Từ đây, cái tên chỉ xuất xứ sản phẩm “Made in Vietnam” được người tiêu dùng nâng lên thành thương hiệu.


Cơn sốt hàng Việt nở rộ không chỉ ở mặt hàng quần áo, mà từ đồ ăn cho đến những sản phẩm như tăm, đũa, chén cũng gắn mác “Made in Vietnam”. Và từ đó, người tiêu dùng có thói quen xem nhãn mác, xuất xứ sản phẩm khi mua hàng.


Từ ngày đổi tên cửa hàng quần áo T.A thành “Made in Vietnam”, lượng khách tới cửa hàng chị Nguyễn Thị Thùy (Cầu Giấy, Hà Nội) đông hơn hẳn. Chị cho biết, do người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng hàng nội địa nên tên “Made in Vietnam” để chỉ dẫn về xuất xứ sản phẩm được thu hút hơn hẳn. Trung bình mỗi ngày chị Thùy bán được hơn 10 sản phẩm, gấp đôi thời điểm trước.


Theo chị Thùy, cụm từ “Made in Vietnam” cũng như “Made in US, Made in China, Made in Japan hay Made in Thailand”, đơn giản chỉ là chỉ dẫn xuất xứ của sản phẩm. Tuy nhiên, do chính người tiêu dùng ưu tiên ưa chuộng và đề cao nên cụm từ này bỗng dưng trở thành một thương hiệu lớn, đặc biệt thường được áp dụng đối với những điểm kinh doanh mặt hàng quần áo. Chị Thùy cho biết, do cung - cầu nên các cửa hàng “Made in Vietnam” mọc nhan nhản trong các trung tâm mua sắm lớn cho đến những con phố nhỏ. Nhà nhà, người người dùng và buôn bán hàng Vietnam.


Cửa nào cho đồ chơi Việt đánh bật hàng Trung Quốc giá bèo?


Ngoài mẫu mã đẹp, kiểu dáng phong phú, mức giá siêu rẻ là nguyên nhân khiến cho đồ chơi Trung Quốc, dù không an toàn vẫn lấn lướt hàng Việt Nam trong suốt thời gian dài.


Ngoài ra, người tiêu dùng còn mơ màng giữa hàng “Made in Vietnam” và hàng VNXK (Việt Nam xuất khẩu). Theo chị Thùy, hàng Việt Nam xuất khẩu là hàng hóa chính hãng được gia công tại Việt Nam, xuất khẩu đi các nước khác như EU, châu Mỹ…và không được phép bán trực tiếp tại Việt Nam. Đúng nguyên tắc, loại hàng này muốn bán tại Việt Nam phải nhập khẩu lại từ nước ngoài. Chính vì thế giá sản phẩm rất cao vì chịu 2 lần thuế xuất khẩu, nhập khẩu, chi phí vận chuyển, VAT…


Còn hàng “Made in Vietnam” chỉ đơn giản là hàng được sản xuất tại Việt Nam, theo chỉ dẫn địa lý. Loại này có nhiều dạng. Phổ biến hơn cả là các loại hàng dựng, hàng lên, ngoài ra còn có hàng fake (đồ kém chất lượng gắn mác hàng Việt). Số ít trong nhóm hàng đeo mác "Made in Vietnam" là hàng xuất dư, tức là hàng Việt Nam xuất khẩu bị lỗi, thừa số lượng, bị tồn lại... tuồn ra ngoài từ nhà máy gia công.


Sự phát triển ào ào theo diện rộng này đã dẫn tới tình trạng loạn giá cả mẫu mã, chất lượng. Nhiều cửa hàng kinh doanh trưng biển hàng Việt Nam xuất khẩu nhưng thực chất là bán hàng không rõ xuất xứ để kiếm lợi nhuận. Thậm chí, việc sử dụng cụm từ "Made in Vietnam" bị lạm dụng, áp dụng với gần như tất cả các mặt hàng, từ quần áo, giày dép đến đồ gia dụng, đồ thiết yếu..., trong xu thế người tiêu dùng ái ngại với hàng Trung Quốc.


Chị Nga, bán giầy dép da ở Khương Thượng cho biết, sau khi đăng biển giày dép handmade, Made in Vietnam, cửa hàng chị đông khách hơn hẳn. Tuy nhiên, theo chị bật mí, từ nguyên liệu da, chỉ khâu, keo dán và đế cao su, khóa đều được nhập về từ chợ Đồng Xuân hoặc chợ Ninh Hiệp. Phần lớn các phụ kiện nói trên đều nhập từ Trung Quốc. “Nguyên liệu không ở Việt Nam, nhưng giày dép được gia công ở Việt Nam nên là sản phẩm của Việt Nam”, chị nói.


Tâm lý thích dùng hàng Việt khiến cho Made in Vietnam - vốn là một cụm từ chỉ dẫn xuất xứ dần trở thành một thương hiệu lớn ở Việt Nam. Ảnh: Ngọc Lan.


Chị Nguyễn Minh Hằng, bán quần áo trên đường Nguyễn Khánh Toàn cho biết, năm gần đây quần áo Xichao, Thái Lan bán chậm do hàng VNXK hút khách. Ngay cả hàng hiệu Trung Quốc hạ giá đến 1 nửa mà vẫn bị tẩy chay, khiến cửa hàng chị khốn đốn.


Chị Phạm Ngọc Thí, một tín đồ dùng hàng Việt chia sẻ, quần áo, giày dép cho đến đồ gia dụng của cả nhà đều dùng hàng trong nước. Chị Thí từng hiểu, sản phẩm “Made in Vietnam” nghĩa là từ nguyên liệu, gia công, chế tác đều là của Việt Nam. Tuy nhiên, sau một thời gian dài trung thành với hàng “Made in Vietnam”, chị Thí mới vỡ lẽ, có nhiều sản phẩm được gắn mác "Made in Vietnam" nhưng chưa chắc đã là hàng Việt. Bối rối vì niềm tin từng đặt nhầm chỗ, chị Thí chia sẻ, hàng Việt bị trá hình nhan nhản nên phải đặt mua đồ do chính nhân công Việt Nam gia công, mà lại được bán ở nước ngoài. Những món đồ nói trên có giá bán không hề rẻ, người mua lại mất thời gian chờ đợi.






Chủ Nhật, ngày 17 tháng 8 năm 2014

Con đường của một cái tên



Con đường của một cái tên


Một doanh nghiệp thường bắt đầu từ một cái tên (trademark) được đăng ký với Nhà nước để báo cáo chính thức cho sự ra đời của thương hiệu. Để cạnh tranh, doanh ngiệp lại tiếp tục đầu tư chăm chút cho “cái tên“, phát triển để nó có thể đứng vững, được quan tâm chú ý trên thị trường.


Theo phân tích của các chuyên gia về thương hiệu, con đường của “cái tên“ được chia thành 4 giai đoạn: nhãn hiệu (trademark), thương hiệu (brand), tin hiệu (rustmark), và thương hiệu được yêu mến (lovemark).


1. Nhãn hiệu (Trademark)

Khi thành lập một doanh nghiệp, việc đầu tiên là tìm một cái tên phù hợp. Trước đây, tên gọi thường đặt theo chức năng như Vifon – tên viết tắt của Công ty Kỹ Nghệ Thực Phẩm Việt Nam (Vietnam Industry Food Company); theo địa chỉ như Vinamilk (sữa Việt Nam)… Những công ty ra đời sau lại có những cái tên “bay bổng“ hơn như Thiên Long, Toàn Mỹ, Phong Phú… và mang tên của doanh nghiệp như Duy Lợi, Thái Tuấn… Tất cả những cái tên được đặt ra như trên được gọi chung là nhãn hiệu, khi mới xuất hiện trên thị trường nhãn hiệu đều như nhau, chưa được người tiêu dùng nhận biết rõ rệt. Việc ra đời hay mất đi của một nhãn hiệu thường không được biết đến do trên thị trường có hàng triệu, triệu nhãn hiệu.


2. Thương hiệu (Brand)

Khi nhãn hiệu bắt đầu được đầu tư phát triển, xây dựng được mối quan hệ tương đối với người tiêu dùng, thì nó sẽ trở thành thương hiệu. Những sản phẩm hiện nay đang được sử dụng đều mang trên mình một thương hiệu như bàn ủi Philips, xe đạp Martin 107, đồng hồ Casio, áo thun AD… Sở dĩ nó được gọi là thương hiệu vì khi sử dụng, bạn không chỉ biết nó mang tên Philips mà nó là bàn ủi bạn cần sử dụng hàng ngày, không chỉ là Martin 107 mà nó là chiếc xe đạp đưa con bạn đến trường… Khi một sản phẩm mà chỉ cần nhắc đến tên là đã được biết đến mà không cần tính từ mô tả, thì nhãn hiệu đó đã trở thành thương hiệu. Ở bậc thương hiệu, mức độ nhận biết sản phẩm cao hơn nhãn hiệu rất nhiều. Trên thế giới hiện nay, thương hiệu có rất nhiều và cạnh tranh khốc liệt, vậy thương hiệu cần phải làm thế nào để tách ra khỏi đám đông trong đó đã được người tiêu dùng lựa chọn?


3. Tin hiệu (Trustmark)

Tin hiệu là thương hiệu được tin dùng, đồng nghĩa với việc mọi người sẽ tin tưởng sản phẩm của thương hiệu đó có chất lượng, tốt, bền, đẹp, bảo đảm. Khi có nhu cầu về một sản phẩm, người tiêu dùng có thể nghĩ ngay đến một thương hiệu để mua có nghĩa là thương hiệu này đã trở thành trustmark. Chẳng hạn như nếu một ai đó nói rằng có tiền sẽ mua máy giặt Electrolux, đồng hồ Rado hoặc lựa chọn thực phẩm thì sẽ là sữa Vinamilk hay sữa cô gái Hà Lan… tất cả những điều đó đã đưa thương hiệu thành tin hiệu. Việc trở thành tin hiệu thực sự không phải dễ dàng, phải mất một thời gian dài gây dựng lòng tin từ người tiêu dùng. Ở mức độ trustmark, doanh nghiệp gần như đã thành công.


4. Đỉnh cao của nhãn hiệu (Lovemark)

Thế nhưng, trên thế giới hiện nay, ngày càng có nhiều trustmark bởi các doanh nghiệp luôn cố gắng tạo cho mình những sản phẩm hoàn hảo, đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu dùng. Vì thế, nếu tồn tại được trên thị trường thì tự nhiên thương hiệu đó sẽ dần đi đến trustmark. Vậy cần phải đi thêm một bước nữa, nâng thương hiệu lên một bậc cao hơn – đó là lovemark. Đây chính là mức cao nhất mà thương hiệu đạt tới vì khi “tình yêu“ tồn tại thị thương hiệu bị bỏ rơi. Chẳng hạn, bạn có chiếc máy nghe nhạc Ipod, đi đâu bạn cũng mang theo, mỗi lần cần sử dụng bạn lại hỏi “cái Ipot của tôi đâu rồi?“, thay thế chiếc máy khác thì bạn lại thấy không hay, không hợp. Khi đó Ipod đối với bạn là một Lovemark (Ipod đã đạt đến đỉnh cao của thương hiệu trong năm 2005). Khi thương hiệu đã trở thành quen thuộc, đi vào “tâm“ của người tiêu dùng, mang tính riêng tư của mỗi người thì nó trở thành lovemark. Lovemark thay đổi theo ý tưởng và cảm nhận của từng người. Trở thành lovemark của nhiều người, thương hiệu đã thực sự đứng trên đỉnh cao của sự thành công.

Thứ Hai, ngày 05 tháng 5 năm 2014

Kangaroo và căn bệnh thương hiệu

 

Kangaroo và căn bệnh thương hiệu


Thương hiệu là một trong những tài sản có giá trị lớn nhất của doanh nghiệp. Nhưng một thương hiệu đại diện cho quá nhiều thứ, nghĩa là nó không đại diện cho một thứ gì hết.

Trước trận chung kết cúp C1, báo chí lại có dịp nói về quảng cáo gây shock của Kangaroo một năm trước. Sau một năm trôi qua, sự kiện “thảm họa quảng cáo” mang tên Kangaroo bỗng được nhiều người cho rằng đó là một chiêu quảng cáo độc đáo, một cú ghi điểm ngoạn mục.

Bài viết này xin nhìn nhận hiện tượng Kangaroo ở một góc nhìn khác, đó là góc nhìn về thương hiệu. Điều đáng nói, những sai lầm về thương hiệu của Kangaroo được coi là sai lầm khá kinh điển về mặt quản trị thương hiệu trên thế giới. Đồng thời, đây cũng là sai lầm mà rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam mắc phải.

Tài sản thương hiệu

Thương hiệu là một trong những tài sản có giá trị lớn nhất của doanh nghiệp. Hãy nhìn ngay thương hiệu đang có giá trị lớn nhất thế giới hiện nay: Coca Cola có giá trị thương hiệu lên tới 72 tỷ USD (con số do Tổ chức InterBrand nghiên cứu) trong khi giá trị tài sản của Coca Cola chỉ xấp xỉ 35 tỷ USD. Có nghĩa là giá trị thương hiệu của Coca Cola lớn gấp đôi so với giá trị thực của công ty này.

Cho đến thời điểm hiện tại, có thể nói Kangaroo là một thương hiệu được nhiều người biết đến. Đây là tài sản lớn cần phải được giữ gìn.

Thương hiệu Kangaroo bắt đầu được thị trường nhận biết với sản phẩm máy lọc nước tinh khiết RO với câu quảng cáo lặp đi lặp lại nhiều lần trên truyền hình: “Kangaroo, máy lọc nước hàng đầu Việt Nam”. Đó là một chiến lược tốt.

Tại thời điểm Kangaroo tiến hành chiến dịch truyền thông, thị trường máy lọc nước đã có khá nhiều thương hiệu, nhưng không có thương hiệu nào nổi trội do thiếu sức mạnh của một chiến dịch truyền thông bài bản.

Trong cuốn sách 22 quy luật bất biến của marketing, hai nhà marketing bậc thầy trên thế giới hiện nay là Al Ries và Jack Trout đã đưa ra 1 quy luật gọi là Quy luật ghi nhớ: “Sản phẩm đầu tiên được ghi nhớ trong tâm trí khách hàng tốt hơn là sản phẩm được sản xuất đầu tiên”.

Ở thị trường Việt Nam, Kangaroo không phải là công ty làm ra sản phẩm máy lọc nước đầu tiên, nhưng có thể nói máy lọc nước Kangaroo chiếm lĩnh một vị trí khá vững chắc trong tâm trí khách hàng.

Sau khi đã tạo dựng được một thương hiệu thành công, HĐQT và CEO sẽ phải làm gì tiếp theo? Tăng trưởng! Sau tăng trưởng? Mở rộng quy mô kinh doanh! Mở rộng quy mô kinh doanh bằng cách nào? Hãy mở rộng dòng sản phẩm, sản xuất thêm những sản phẩm khác bên cạnh sản phẩm cốt lõi của công ty! Vậy khi sản xuất ra được những sản phẩm này, ta đặt tên sản phẩm như thế nào? Dĩ nhiên là dùng tên của thương hiệu đã thành công cho những sản phẩm mới! Dĩ nhiên là như vậy!

Điều “dĩ nhiên” không “dĩ nhiên”

Và điều “dĩ nhiên” này đang được Kangaroo áp dụng. Nghĩa là tất cả các sản phẩm con của công ty này đều mang nhãn hiệu Kangaroo.
Theo như giới thiệu thì công ty có tới hơn 100 dòng sản phẩm khác nhau chia thành sáu nhóm mang thương hiệu Kangaroo: Kangaroo mobile – Điện thoại di động, Kangaroo home appliance – Thiết bị điện gia dụng, Kangaroo kitchen – Thiết bị nhà bếp; Kangaroo window – Hệ thống cửa; Kangaroo solar – Công nghệ năng lượng, Kangaroo safety – Thiết bị an toàn.

Rất tiếc, chiến lược “dĩ nhiên” này lại có nguy cơ mang đến sự tổn thương rất lớn cho thương hiệu, tài sản lớn nhất của doanh nghiệp.

Một thương hiệu mạnh phải gắn được tên mình với một sản phẩm/hành vi nhất định. Hãy xem thử những thương hiệu mạnh nhất: Coca Cola – nước cola, iPhone – điện thoại smart phone, iPad – máy tính bảng, xe ô tô Volvo – xe ô tô an toàn, FedEx – chuyển phát nhanh qua đêm, Google – tìm kiếm trên Internet, FaceBook – mạng xã hội, Amazon – nhà sách trên mạng và ở Việt Nam có thể kể đến những cái tên thương hiệu mạnh như VinaMilk – sữa, Trung Nguyên – cà phê, Diana – băng vệ sinh, OK – bao cao su…

Nên nhớ, việc gắn được tên mình với một sản phẩm/hành vi nhất định là một trong những công việc quan trọng bậc nhất của hoạt động marketing. Kangaroo đã có thể chiếm lĩnh từ “máy lọc nước”. Rất tiếc nhiều công ty sau khi đã hoàn thành xuất sắc phần công việc này lại xóa nhòa đi thành quả của mình bằng việc đặt cùng một thương hiệu cho quá nhiều sản phẩm khác nhau, trong đó có Kangaroo.

Có câu: “Short term gain for the long term pain”, nghĩa là “Gặt hái trong ngắn hạn và trả giá trong dài hạn”. Việc dùng chung một thương hiệu cho những sản phẩm con là minh họa rõ ràng.

Hãy xem thử việc gắn thương hiệu Kangaroo lên nhiều sản phẩm khiến thương hiệu này có tần suất xuất hiện nhiều hơn. Tuy nhiên, khi sản phẩm nào cũng mang thương hiệu Kangaroo, người tiêu dùng sẽ rối trí. Thậm chí có thể là cả nhân viên của Kangaroo cũng rối trí.

Tầm nhìn của Kangaroo là “Số 1 Châu Á về doanh số hàng gia dụng và thiết bị vệ sinh an toàn trong gia đình”. Như thế, khách hàng sẽ hỏi: Một công ty gia dụng và thiết bị vệ sinh an toàn thì biết gì về điện thoại di động? Tương lai của Kangaroo Mobile ở đâu?

Một thương hiệu đại diện cho quá nhiều thứ, nghĩa là nó không đại diện cho một thứ gì hết.

Bài học

Chiến lược đa dạng hóa sản phẩm không phải là một chiến lược sai lầm. Nhưng việc sử dụng chung một thương hiệu cho nhiều dòng sản phẩm sẽ có thể gây tổn hạn lớn đến thương hiệu.

Thực tế không phải không có những doanh nghiệp thành công khi dùng một tên thương hiệu cho nhiều sản phẩm trong cùng dòng. Ví dụ trường hợp Toto dùng chung thương hiệu của mình cho các thiết bị nhà vệ sinh. Nhưng dùng một thương hiệu cho những sản phẩm không có liên quan gì đến nhau như Kangaroo máy lọc nước và Kangaroo Mobile sẽ gây tổn hạn lớn đến thương hiệu của doanh nghiệp.

Trong trường hợp buộc phải mở rộng dòng sản phẩm, các doanh nghiệp nên làm gì?

Câu trả lời là bạn nên sử dụng nhiều thương hiệu cho những sản phẩm khác nhau. Apple sử dụng tên iPhone cho điện thoại, iPad cho máy tính bảng chứ không phải là Apple Phone hay Apple Tablet Computer. GM sử dụng nhiều thương hiệu cho từng loại xe có bước giá khác nhau từ thấp đến cao: Saturn, Chevrolet, Oldsmobile, Cadillac. Vendome Luxury Group có trang sức Cartier, bút Mobtblanc, đồng hồ Piaget, cà vạt Sulka.

Bài học cũ, nhưng vẫn còn nhiều doanh nghiệp Việt Nam “vướng”.

Mua thương hiệu hay giá trị thực sự?

 

Mua thương hiệu hay giá trị thực sự?


Trong một thế giới mà công nghệ thay đổi liên tục và có quá nhiều sự lựa chọn thì chuyện bỏ 400 – 500 USD hay 100 USD để mua một sản phẩm có cùng tính năng sẽ được người tiêu dùng xem xét

Người tiêu dùng luôn phân vân hoặc là trả một giá thật cao để sở hữu sản phẩm có thương hiệu “đình đám” hoặc sẽ mua hàng cùng tính năng, giá cả hợp lý nhưng thương hiệu được định giáthấp hơn.

Khi thị trường có nhiều lựa chọn

Trong quyển Bong bóng thương hiệu, tác giả John Gerzema Ed Lebar có đề cập giá trị đối với người tiêu dùng bắt nguồn từ 2 yếu tố: Giá và tiện ích cảm nhận thật sự bởi họ. Trên thực tế, nhiều công ty đã đạt giá trị tài sản vô hình (nhãn hiệu, thương hiệu…) cao hơn nhiều so với giá trị hữu hình.

Nhưng liệu rằng khi thị trường đã xuất hiện nhiều nhân tố cùng loại, các “ông lớn” có chấp nhận đi vào phân khúc “đại trà”, kiểu như Louis Vuitton sẽ chấp nhận sản xuất chiếc túi LV với giá 200 – 300 USD hay D&G sẽ có chiếc quần bằng giá với Zara? Aswath Damodaran, giáo sư tài chính và định giá doanh nghiệp của Trường Kinh doanh Stern, thuộc Đại học New York, chia sẻ một trong những lợi ích của các công ty có thương hiệu là họ có thể đặt ra một cái giá cao hơn so với những sản phẩm cùng loại.

Thậm chí, giá bán càng cao thì giá trị của thương hiệu càng mạnh mẽ và ngược lại. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây về thương hiệu cho thấy khi lợi nhuận trong tương lai được bàn đến thì vấn đề kinh doanh mới được đặt lên hàng đầu chứ không phải thương hiệu. Bởi người tiêu dùng ngày nay đã thay đổi!

“Chỉ số chung thủy” giảm dần

Trong một thế giới mà công nghệ thay đổi liên tục và có quá nhiều sự lựa chọn thì chuyện bỏ 400 – 500 USD hay 100 USD để mua một sản phẩm có cùng tính năng sẽ được người tiêu dùng xem xét với con mắt của một nhà đầu tư. Họ sẽ tính đến các yếu tố: Giá mua vào, giá trị sản phẩm đó mang lại; đặc biệt, đối với các sản phẩm công nghệ như chiếc smartphone, người ta còn nghĩ rằng liệu sau một đêm ngủ dậy, có model nào độc đáo lại thâm nhập thị trường? Vậy là chỉ trong vòng 12 giờ, sản phẩm đã mất 50% giá trị?

Thấu hiểu rõ xu hướng tiêu dùng này, hãng điện thoại Q-Mobile cho biết điện thoại giá trị thực sẽ là chiến lược lâu dài của họ. Hãng điện thoại Việt này tuyên bố họ không ngại bỏ tiền đầu tư cho các sản phẩm điện thoại thông minh – phân khúc đang cực kỳ sôi động trên thị trường – với đầy đủ các tính năng của một chiếc smartphone hiện đại nhất nhưng sẽ cực kỳ cẩn trọng với các chi tiêu không cần thiết nhằm tiết giảm tối đa các chi phí sản phẩm và mang sản phẩm đến cho mọi đối tượng tiêu dùng.

Các chuyên gia dự báo xu hướng giá trị thực sẽ thay đổi cục diện phân khúc điện thoại di động thông minh trong bối cảnh thị trường đã có quá nhiều thương hiệu lớn đang đi theo chiến lược thương hiệu giá trị nhưng người tiêu dùng lại đang ngày càng “thông minh” hơn khi nhận ra họ đang phải trả nhiều tiền hơn cho các sản phẩm tiêu dùng đã mua.

John Gerzema Ed Lebar nhìn nhận gần đây có một sự thay đổi thú vị là người tiêu dùng chọn các thương hiệu dựa vào tiện ích mang lại hơn là cảm tính. Tiện ích và sự phù hợp của thương hiệu đã đánh bại sức hấp dẫn cảm tính. Ngày nay, tỉ lệ chọn các thương hiệu dựa trên tiện ích đã cao hơn 8% so với dựa trên cảm tính.

Thứ Tư, ngày 23 tháng 4 năm 2014

Mỹ phẩm Việt: Tủi thân ngay trên sân nhà


Mỹ phẩm Việt: Tủi thân ngay trên sân nhà


Khác với các đồng nghiệp thường mở hộp trang điểm ra tút lại gương mặt ngay tại bàn làm việc, chị Nguyễn Thị Thanh (ngụ tại quận Tân Bình) thường vào nhà vệ sinh nữ để giặm phấn. Đó là tình cảnh của không chỉ một người dùng mỹ phẩm nội.


Mỹ phẩm Việt Nam được thanh niên, thiếu nữ ở Campuchia chuộng. Nhưng ở Việt Nam, ít người tự tin dùng.

Sản phẩm chị Thanh thích xài hơn năm qua là phấn two way cake của Thorakao. Chị Thanh nói: “Loại này mình xài hợp, thoa lên da khá mịn, lại rẻ: 64.000 đồng/hộp, nhưng so với hàng hiệu của mấy người bạn đồng nghiệp thì chẳng có đẳng cấp gì, nên mình ngại, ít khi mang ra…”

Lác đác sản phẩm được dùng

Chị Trang Anh, từng ngồi giặm phấn made in Việt Nam tại khu dịch vụ làm móng trên đường Lê Thánh Tôn, quận 1 (đối diện chợ Bến Thành), kể: “Khi tôi lôi hộp phấn nội ra, tất cả những khách hàng ngồi gần đều nhìn, tỏ ý ngạc nhiên. Tôi hiểu, bởi gần như khách của khu vực này đều là dân sang, xài hàng hiệu. Khu vực chợ Bến Thành, Lê Thánh Tôn cũng chẳng có shop nào bán mỹ phẩm nội cả”. Từng xài mỹ phẩm của Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, và tự cảm nhận làn da hợp với phấn Việt Nam, nên chị Trang Anh là một trong số ít người tiêu dùng không ngại ngùng khi “sô” ra mỹ phẩm nội đang xài.

Chị Nguyễn Thị Bé, ngụ tại quận Bình Thạnh, là tín đồ của kem nghệ. Chị cho biết đã hơn năm năm qua thường xuyên xài kem nghệ để thoa da, trị mụn, thoa vết thâm do mụn cho những đứa cháu tuổi dậy thì trong nhà. Chị Bé kể: “Tôi từng xài kem trị mụn nước ngoài giá cả triệu đồng, nhưng tác dụng không hơn kem nghệ. Trong khi đó xài kem Việt Nam sản xuất chỉ có 12.000 đồng/tuýp, lúc nào cũng mua được hàng mới không sợ cận hay hết đát (date)”.

Trường hợp khác, cô Trần Mỹ Phong, ngụ trên đường Nguyễn Thiện Thuật, quận 3 gặp ai bị rụng tóc cũng mách nước: “Mua tinh dầu bưởi của Việt Nam xức tóc mỗi ngày, sau 1 – 3 tháng là thấy cải thiện rõ, đừng ham mua hàng ngoại giá mắc mà hiệu quả chưa chắc đã bằng”. Cô Mỹ Phong tự tin giới thiệu, bởi cô từng bị rụng tóc, từng xài tinh dầu bưởi và tự thân cảm nhận về chất lượng sản phẩm của mỹ phẩm Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu thị trường tiêu dùng do công ty mỹ phẩm Lan Hảo tiến hành cho thấy có đến 80% người tiêu dùng chấp nhận xài mỹ phẩm nội với mức giá nội. Ông Huỳnh Kiến Nam, chủ công ty mỹ phẩm Gia Đình, kể: “Chai sữa tắm Familiar cỡ lớn hiện nay chỉ khoảng 50.000 – 60.000 đồng. Tôi có thể thêm các phụ gia vào, để sản phẩm làm cho da mềm, mượt hơn, giàu dưỡng chất, nhưng khách hàng lại không chấp nhận trả 80.000 – 100.000 đồng cho chai sữa tắm nội dù chất lượng thật cao”.

Theo hội Hoá mỹ phẩm TP.HCM, cả nước có khoảng 430 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh hoá mỹ phẩm. Hàng ngoại chiếm hơn 90% dung lượng thị trường. Doanh thu ước tính bình quân giai đoạn 2009 – 2011 khoảng 130 – 150 triệu USD/năm.


Tính đến tháng 9.2012, mỹ phẩm làm đẹp, chăm sóc da tóc của Việt Nam đã có được cả trăm thương hiệu và sản phẩm. Tỷ lệ người tiêu dùng mỹ phẩm Việt tại thành thị và nông thôn đều tăng lên, khoảng 30% mỗi năm, nhưng mỹ phẩm Việt vẫn chỉ chiếm tỷ lệ… 10%, theo hội Hoá mỹ phẩm TP.HCM.

Lợi thế thiên nhiên lép vế trước thương hiệu

Mỹ phẩm Việt từng khai thác các lợi thế sử dụng thảo mộc thiên nhiên của nước nhà, như: dầu dừa, chanh, bưởi, sả, bạc hà, nghệ, bồ kết… Tuy nhiên, dầu gội chiết xuất bồ kết của Lana, Mỹ phẩm Sài Gòn, Thorakao… đã phải lép vế trước loại dầu gội in hình trái bồ kết của một tập đoàn đa quốc gia. Ngay cả dầu gội chống rụng tóc tinh dầu bưởi cũng không tiêu thụ nhiều hơn dầu gội tinh dầu bưởi nhập từ Pháp, dù giá hàng ngoại mắc hơn gần mười lần.

Ông Lương Vạn Vinh, chủ công ty hoá mỹ phẩm Mỹ Hảo, người khởi nghiệp kinh doanh với nghề làm xà bông từ 30 năm trước, cho biết: “Trước đây các nhà sản xuất Việt Nam chỉ làm xà bông bằng dầu dừa. Nhưng hiện nay đa phần đều theo trào lưu thế giới, sản xuất bằng dầu cọ. Bởi các công ty sản xuất công nghiệp toàn cầu đã tinh chế dầu cọ thành các tinh thể (soapchip) dạng hạt, nhà sản xuất xà bông chỉ việc mua về, pha trộn màu, mùi hương tổng hợp rồi sau đó tạo khuôn vuông, tròn, dẹt gì đó theo kiểu riêng của mình, làm cho xà bông có hình dạng đẹp hơn, màu sắc tươi tắn hơn”.

Dược sĩ Huỳnh Kỳ Trân, người đã bỏ khá nhiều công sức nghiên cứu sản xuất xà bông chiết xuất hồi và nghệ, có tác dụng phòng chống cúm và làm trắng mịn da, nhưng sản phẩm thiên nhiên này khi tung ra thị trường không thể bán chạy như xà bông hương Camay.

Hộp phấn trang điểm của Thorakao sau hàng chục lần cải tiến, đến nay nhà sản xuất tự tin chất lượng không kém hàng hiệu ngoại. Thế nhưng sản lượng bán ra cũng chỉ mới tăng thêm chừng 15%.

Mỹ phẩm Việt Nam được bày bán trong siêu thị, cửa hàng, sạp chợ khá ít, như Mỹ phẩm Sài Gòn, Thorakao, Lana, Mỹ Hảo, Lan Hảo… và gần như không chen chân được vào các trung tâm thương mại.

Xuất xứ sản phẩm & Chiến lược khác biệt hóa thương hiệu


Xuất xứ sản phẩm & Chiến lược khác biệt hóa thương hiệu


Các thương hiệu hàng đầu đều có liên tưởng đến xuất xứ sản xuất. Xuất xứ đó có thể là một quốc gia hoặc một địa danh địa phương cụ thể.

Các thương hiệu đồng hồ có tên tuổi đều thuộc về đất nước Thụy Sỹ xinh đẹp (Rolex, Tissot, Longines). Nước Đức được nhắc đến đầu tiên khi nói đến các thương hiệu xe sang (BMW, Mercedes, Audi); và nói đến sản phẩm công nghệ, nước Mỹ chắc chắn là “vô đối” (Apple, IBM, Microsoft).

Có hai vấn đề đặt ra cho các nhà quản trị thương hiệu: Tận dụng lợi thế xuất xứ như thế nào một cách hiệu quả nhất trong các thông điệp về khác biệt hóa thương hiệu. Hóc búa hơn, khi một sản phẩm không có chút lợi thế nào về xuất xứ làm thế nào để ghi dấu ấn với khách hàng?

Khi thương hiệu đến từ một quốc gia “nổi tiếng”

Lexus cũng thuộc dòng xe cao cấp và là thương hiệu bán chạy nhất tại thị trường Mỹ. Khi đề cập đến xuất xứ sản xuất, các đối thủ BMW hay Mercedes có thể thoải mái ghi rõ “Made in Thailand” hay “Made in Vietnam” mà không ảnh hưởng gì đến hình ảnh của những thương hiệu cao cấp sang trong. Lexus thì khác, thương hiệu cao cấp chỉ được sản xuất duy nhất tại Nhật Bản—đất nước có liên tưởng thương hiệu rất mạnh đến hai chữ “chất lượng”. Khẩu hiệu của Lexus là “The passionate pursuit of perfection” (cuộc đua quyết liệt vì sự hoàn hảo). Lexus muốn khai tác tối đa lợi thế về xuất xứ mà nước Nhật đã có được để hiện thực hóa chiến lược cạnh tranh vì sự “hoàn hảo”.

Làm thế nào để định vị thành công khi không có lợi thế về xuất xứ

Tiger bia là thương hiệu khá thành công tại Việt Nam và các thị trường châu Âu (thương hiệu bia có xuất xứ Singapore này đã có mặt tại gần 75 quốc gia trên thế giới). Ai cũng nhận thấy quốc đảo Sư Tử không hề có một thế mạnh nào về sản xuất bia. Vậy Tiger bia khác biệt thương hiệu của họ như thế nào? Tại thị trường châu Âu, Tiger bia định vị họ là thương hiệu bia “đến từ Châu Á”. Logo Tiger bia là hình con hổ—một loại động vật từ châu Á và thường có liên tưởng tới sức mạnh. Điều này rất phù hợp với slogan của Tiger “Enjoy winning”. Ngược lại, tại Việt Nam (và các thị trường châu Á khác), thông điệp của Tiger là “a world-claimed beer” (loại bia châu Á được thế giới thừa nhận). Quả thât, khi Tiger bia đã có mặt tại 75 quốc gia trên thế giới thì họ khá hợp lý khi sử dụng tuyên ngôn này. Khi bia là sản phẩm thường có liên tưởng rất mạnh đến xuất xứ, Tiger bia đã chọn cách khác biệt hóa khá khôn ngoan khi tránh xa đến liên tưởng xuất xứ Singapore của mình.

Và câu chuyện của thương hiệu Việt

Việt nam là đất nước của nông nghiệp. Về lĩnh vực nông sản, Việt Nam được biết đến là nước xuất khẩu cà phê (nguyên liệu thô) lớn thứ hai trên thế giới (sau Brazil). Có thể nói Trung Nguyên là thương hiệu tiên phong hiếm hoi giới thiệu được văn hóa Việt thông qua văn hóa cà phê của họ. Giáo sư Kinh Tế nổi tiếng thế giới Joseph Nye—Cha đẻ của quyền lực mềm, quyền lực thông minh (ông là nhà tư vấn chiến lược cho chính quyền của tổng thống Bill Clinton, Barack Obama) đã thừa nhận “Coffee Power is Vietnam’s soft and smart power” (Cà phê là quyền lực mềm của cà phê Việt Nam).

Tham vọng của Trung Nguyên là cực lớn thể hiện qua tầm nhìn của họ “Kết nối và phát triển những người yêu và đam mê trên khắp thế giới”. Slogan mới của họ ”Thống lĩnh nội địa, chinh phục thế giới” thay thế slogan cũ “Khơi nguồn sáng tạo” cũng để chuyển tải thông điệp này.

Chỉ có một chút băn khoăn: ông chủ Đặng Lê Nguyên Vũ muốn biến Buôn Mê Thuật thành thủ phủ cà phê thế giới, slogan củaTrung Nguyên lại dường như bỏ lỡ cơ hội phát huy lợi thế “xuất xứ sản phẩm” khi không nói với cả thế giới rằng thương hiệu cà phê Trung Nguyên đến từ xứ sở của cà phê.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Best Hostgator Coupon Code